La Motte Picquet – Tuần dương hạm lớn nhất Đông Dương và người thủy thủ đầu tiên của Đoàn tàu không số Việt Nam

La Motte Picquet - Tuần dương hạm lớn nhất Đông Dương

Ba tàu tuần dương hạng nhẹ gồm Duguay - Trouin, Lamotte - Picquet và Primauguet, là những tàu tuần dương đầu tiên được Pháp chế tạo từ năm 1906. Đây là những chiếc tàu đầu tiên sau Đại chiến thế giới thứ nhất có tốc độ và trang bị nhiều vũ khí hạng nặng. 

Tàu Lamotte - Picquet ở thượng Hải năm 1937

Số phận của 3 con tàu này rất khác nhau. Duguay - Trouin hạ thủy ngày 14/8/1923, hoạt động từ 02/11/1926 và chấm dứt hoạt động từ 19/3/1952. Trong khi đó, Primauguet hạ thủy ngày 21/5/1924, hoạt động từ 01/4/1927 và bị đánh đắm trong cảng Casablanca ngày 8/11/1942. Riêng chiến hạm Lamotte - Piquet có lịch sử hoạt động gắn liền với Đông Dương và chính một thủy thủ của con tàu này sau này là một thủy thủ - thuyền trưởng tàu không số lịch sử của Hải quân Việt Nam.

La Motte - Picquet là một tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Pháp thuộc lớp Duguay - Trouin được chế tạo sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó được hạ thủy vào năm 1924 và được đặt tên nhằm vinh danh vị Đô đốc vào Thế kỷ 18Bá tướcToussaint - Guillaume Picquet de la Motte. Nó cũng là chiến hạm lớn nhất Đông Dương vào những năm đầu thế kỉ 20 mà Pháp đã điều tới hoạt động tại Đông Dương.

Theo ghi chép vào tháng 10 năm 1978 của Albert Moreau, từ 1927, La Motte -  Picquet  đã có nhiều hoạt động tại Nam Mĩ và Châu Phi. Nhưng khu vực hoạt động và cũng là điểm cuối cùng mà La Motte-Picquet  đã nằm lại chính là Đông Dương - Sài Gòn.

Từ ngày 23 đến ngày 27/12/1935, Lamotte-Picquet đến Singapore và đến Sài Gòn vào ngày 30/12/1935. Ngay khi đến Sài Gòn, chiến hạm Lamotte - Picquet đã có nhiều cuộc tuần dương đến Hải Phòng, Vịnh Hạ Long và nhiều điểm bên ngoài khu vực Đông Dương như Thượng Hải (Trung Quốc), Băng Cốc (Thái Lan)…

Tàu Lamotte Picquet tại Hồng Kông năm 1938

Ngày 05/02/1937, Lamotte - Picquet đến Cam Ranh. Tại đây, Lamotte - Picquet đã đón tiếp Hoàng đế An Nam lúc đó là Bảo Đại. Bức ảnh Vua Bảo Đại lên chiến hạm Lamotte - Picquet cho thấy vai trò và sức mạnh của chiến hạm này vào thời điểm đó như thế nào.

Năm 1938, Lamotte - Picquet xảy ra một biến cố, sau một cuộc tập trận, một chiếc tàu ngầm Phénix bị mất. Lực lượng hải quân Pháp lúc đó ra sức tìm kiếm nhưng không thành công.

Hoạt động của Lamotte - Picquet chủ yếu là tuần dương, bảo vệ những mục tiêu trên biển của thực dân Pháp thời kì đó. Trận chiến lớn nhất mà Lamotte - Picquet tham gia và để lại dấu ấn là trận Koh Chang, diễn ra vào ngày 14 tháng 01 năm 1941, theo đó thì một hải đội của Thái Lan đã bị Lamotte - Picquet  tiêu diệt.

Tàu Lamotte Picquet tại Hải Phòng năm 1939

Số phận của tàu Lamotte - Picquet được định đoạt vào năm 1945. Vào ngày 12 tháng 01 năm 1945, một cuộc oanh tạc trên không của Lực lượng đặc nhiệm 38 Hải quân Hoa Kỳ - theo nguyên tắc dành cho quân chiếm đóng Nhật Bản - đã buộc chỉ huy tàu Lamotte - Picquet phải ra lệnh sơ tán một số người bị thương: một tá nhân viên Pháp và khoảng sáu mươi thủy thủ người An Nam. Khi bị oanh tạc, trúng nhiều quả bom, bị đốt cháy, tàu tuần dương Lamotte - Picquet  chìm hẳn, vĩnh viễn nằm lại cảng Sài Gòn, kết thúc 21 năm hoạt động cho chính quyền thực dân Pháp giai đoạn đó.

Lê Văn Một - Nguyên sĩ quan chiến hạm Lamotte - Picquet, người chỉ huy đầu tiên của Đoàn  tàu không số Việt Nam

Sẽ không có gì đáng nói quá nhiều về con tàu Lamotte - Picquet, nếu như nó không có sự xuất hiện của Lê Văn Một - một người An Nam làm hoa tiêu  trên con tàu này. Năm 2006, cuốn sách  “Nhật ký Lê Văn Một, Thuyền trưởng tàu không số đầu tiên trên biển Đông” do  Nguyễn Thị Loan - Nguyễn Trọng Xuất chấp bút,  Nhà xuất bản Trẻ ấn hành cho thấy một hoa tiêu người Việt đã từng tham gia phục vụ trên chiến hạm lớn nhất Đông Dương này.

Thuyền trưởng Lê Văn Một

Theo các nguồn tài liệu, Lê Văn Một là người dòng dõi của Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, ông sinh ngày 30 tháng 11 năm 1921, là con thứ 11 trong một gia đình giáo học quốc tịch Pháp có 13 anh em. Cha ông là cụ Auguste Lê Văn Giỏi, từng là Đốc học Mỹ Tho. Mẹ ông là bà Trần Thị Lang. Ông có tên Pháp là Abel René, hoặc Lê Văn Abel René. Gia đình giàu có, ông được hấp thu một nền giáo dục Tây học hoàn chỉnh. Từ nhỏ, ông được gia đình cho học tại Trường tiểu học Mỹ Tho, Trường Lê Bá Cang - Sài Gòn, sau ra học ở Huế rồi ra Hà Nội học ở Trường Thăng Long. Sau khi tốt nghiệp Trung học, do có Pháp tịch, ông thực hiện nghĩa vụ quân sự với nước Pháp, bấy giờ đứng trước nguy cơ chiến tranh. Ông được đưa vào học tại trường Thủy quân nước Pháp, sau đó được phân công làm hoa tiêu trên kỳ hạm La Motte – Picquet.

Thông số kĩ thuật tàu La Motte-Picquet

Hạ thủy ngày 21/3/1924.Nhập biên chế 05/3/1927.

Trọng tải 7.365 tấn Anh (7.483 tấn).

Choán nước 9.500 tấn Anh (9.700 tấn) (đầy tải).

Độ dài 181,3m, sườn 17,5m.

Tốc độ 33 hải lí/giờ (61 km/h)

Sau cuộc đảo chính ngày 09 tháng 3 năm 1945, trừ một số nhỏ tàu thoát sang Trung Quốc, lực lượng thủy quân Pháp buột phải đánh chìm hầu hết các tàu chiến của mình tại Đông Dương để tránh rơi vào tay người Nhật. Các thủy quân Pháp hầu hết đều bị quân Nhật bắt giam, trừ một số ít trốn thoát trong dân chúng, trong đó có Abel René – Lê Văn Một.

Cách mạng tháng Tám như một cơn gió, làm thay đổi suy nghĩ và hành động của Lê Văn Một. Ý thức cội nguồn, ý thức dân tộc trở nên mạnh mẽ, và cũng từ đó ông nhận ra: “La france ce n’est pas ma Patrie!” (Dịch: Nước Pháp không phải mẫu quốc của tôi!).

Tàu  Lamotte-Picquet trên sông Sài Gòn năm 1937

Từ đây, cái tên Abel René đã chìm vào quá khứ mà chỉ có một công dân Lê Văn Một của nước Việt Nam. Từ điển wiki cho biết rằng, khi người Pháp nổ súng tái chiếm Nam Bộ, do hoàn cảnh thiếu thốn vũ khí, Xứ ủy Nam Bộ đã thành lập Ban sưu tầm vũ khí ở nước ngoài, đặt dưới quyền lãnh đạo của Trần Văn Giàu và Dương Quang Đông. Lê Văn Một và 12 người nữa được chọn vào nhóm vận tải vũ khí. Lê Văn Một được giao nhiệm vụ trọng trách mang theo 25 kg vàng quyên góp của “Tuần lễ vàng”, cùng nhóm sang Băng Cốc (Thái Lan) bằng ghe buồm để tìm mua vũ khí và tổ chức con đường xuyên Tây, vận chuyển vũ khí từ Thái Lan về Nam Bộ. Sau khi sang đến Thái Lan, dựa vào người Việt kiều tại đây, nhóm đã tổ chức được hoạt động mua sắm và vận chuyển vũ khí về nước bằng cả đường bộ lẫn đường thủy. Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, đã có sự đóng góp không nhỏ của Lê Văn Một, Bông Văn Dĩa cùng các đồng chí của mình trong các chuyến vận tải vũ khí cũng như chuyên chở các lãnh đạo cho Nam Bộ. Những kinh nghiệm vận tải đường biển của các ông trở thành những căn cứ đầu tiên để mở Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển sau này. Và ông cũng chính là thủy thủ đầu tiên của Đoàn tàu không số anh hùng.

Tàu Lamotte Picquet trên Vịnh Hạ Long khoảng 1938

Năm 1985, Lê Văn Một  được nhà nước Việt Nam truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Ngày 20 tháng 9 năm 2011, ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Khu Bến K15 (Đồ SơnHải Phòng), nơi tàu Phương Đông 1 khởi hành chuyến đầu tiên, cũng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích quốc gia.

                                                                                                                         Lí Học

Tài liệu tham khảo:

  1. http://www.croiseur-lamotte-picquet.fr
  2. Báo Sài Gòn giải phóng, 29.3.2006: http://www.sggp.org.vn/gioi-thieu-nhat-ky-thuyen-truong-tau-khong-so-dau-tien-21863.html
  3. Wikipedia, từ khóa: Lê Văn Một, La motte Picquet