Bia đá – Nơi lưu giữ tư liệu quý về ngành đóng thuyền ở Việt Nam
Nước ta trải dài từ Bắc xuống Nam có nhiều làng nghề truyền thống đóng tàu, thuyền nổi tiếng. Lịch sử đóng tàu, thuyền của các làng được ghi chép, truyền tụng với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, ở một số nơi, những tấm bia đá của làng như một di sản tư liệu quý để tìm hiểu về lịch sử làng, lịch sử nghề đóng tàu thuyền của làng.
Tấm bia đá làm năm 1875 (thời Tự Đức, triều Nguyễn), nội dung ghi chép về việc thờ tổ nghề của làng và
danh sách thợ thuyền. Hiện đang đặt tại phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Làng nghề đóng tàu Cống Mương thuộc phường Phong Hải, thị xã Quảng Yên cũ, (nay là phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh) là nơi có truyền thống đóng tàu lâu đời và nổi tiếng khắp vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Từ đầu thế kỷ XV, khi những cư dân từ kinh thành Thăng Long ra vùng đảo này định cư, sinh sống thì nghề đóng tàu, thuyền gỗ bắt đầu xuất hiện và phát triển đến ngày nay. Tại ngôi làng này, người ta đã tìm kiếm được tấm bia đá làm năm 1875 (thời Tự Đức, triều Nguyễn), nội dung ghi chép về việc thờ tổ nghề của làng và danh sách thợ thuyền. Theo Báo Quảng Ninh, tấm bia đá có đoạn: “Trăm nghề phải có thầy, nghề đóng thuyền cũng thế. Dân lợi do có thuyền bè lưu thông, thật là ân trạch của bậc tiền bối truyền thụ cho cái tinh xảo đó...”.
Ngày nay, vào 10/2 và 10/8 âm lịch hàng năm, người dân trong làng tổ chức lễ hội để tri ân tổ nghề và dâng hương bia đá Tổ nghề. Ít ai biết rằng, những con thuyền buồm cánh dơi Hạ Long nổi tiếng trên dọc sông, biển vùng vịnh Bắc Bộ được ra đời từ những ngôi làng nghề đóng thuyền truyền thống như làng Cống Mương và một số nơi khác ở vùng biển Hạ Long. Đó là những con thuyền huyền thoại, đi vào lịch sử dựng nước và giữ nước, đồng thời cũng đi vào thi ca với một vẻ đẹp độc đáo, ấn tượng giữa con người và thiên nhiên ở vùng di sản Hạ Long.
Làng nghề Hoàng Lao xưa, nay là làng Trung Kiên, thuộc xã Hải Lộc, tỉnh Nghệ An là làng nghề đóng tàu thuyền truyền thống nổi tiếng có tuổi đời khoảng 700 năm. Từng đóng các loại thuyền chiến và thuyền rồng cho triều đình nhà Lê, đến nay, ngôi làng ven biển này vẫn tiếp tục duy trì nghề truyền thống, lưu giữ đền thờ Tổ nghề là "Quan Hậu". Theo bài viết “Về tấm bia đá của làng Hoàng Lao” của TS. Hoàng Hồng Cẩm – Viện Nghiên cứu Hán Nôm in trong Thông báo Hán Nôm học năm 2000 thì làng còn giữ được tấm bia bốn mặt được làm vào năm Chính Hoà thứ 17 (1696).
Theo đó, tuy là bia hậu thần “nhưng nội dung thực sự là một chứng nhân lịch sử, một khoản ước biểu hiện bằng đã của làng”. Mặt thứ nhất của bia, ghi và ca tụng cụ tổ nghề khéo tay tài cao trong việc làm ra những con thuyền đẹp: “Ôi! Thông minh chính trực ấy là thần. Bởi thế được hưởng sự dâng cúng muôn đời. Phải nhờ vào đại phúc đức, đại lực lượng nếu không sao có thể được người sau thờ cúng, được mọi người kính nể phụng thờ như thế. Nay bản xã từ quan viên đến già trẻ gái trai, trộm thấy: Lệnh công là người có tài cao, nhiều mẹo lược, trí tuệ hơn người, trong lòng sẵn có qui củ chuẩn thước, bàn tay điêu khắc nên hình chim phượng, trí lực tựa như cỗ máy vậy. Ông cứ tự nhiên như nhiên mà làm thành thuyền rồng. Coi như ông đã tiếp nhận được tiềm ẩn của ông cha, ngưỡng trông lên ân của đức vua”
Mặt thứ hai của bia đá, ghi nhiều sự kiện lịch sử của làng, nhưng với nghề đóng thuyền ghi rất rõ: “Năm Bính Thìn (1676) bắt đầu dựng trại đóng thuyền và đóng được sáu chiếc”.
Mặt thứ tư ghi “Các khoản điều lệ” của làng, tấm bia đã cung cấp nhiều tư liệu quý về điều lệ của làng trong những năm cuối thế kỷ XVII.
Đó là: “Trong bản xã đã có lệ định giá cho các loại thuyền mà những gia đình có truyền thống có am hiểu việc đóng thuyền từ triều trước và việc mua bán thuyền của mọi người. Nhưng thấy lệ này không tiện. Đến năm Ất Mão (1675) ông quan viên tước Phàn Lộc bá Nguyễn Viết Tôn bổ sung thêm các điều lệ đó bản xã lưu truyền làm thờ mãi mãi về sau. Hễ hàng năm người nào đóng được chiếc thuyền với giá tiền đồng, mỗi chiếc thu được bao nhiêu quan thì trích thu mỗi quan ba văn tiền cổ, đem nộp quan viên tước Phàn Lộc bá thu lại làm tiền chi vào các dịp lễ tỏ ý kính tiên sư. Việc ấy xưa nay vẫn theo thế. Hoặc có người mới gia nhập phường nghề, phải có lễ là: tiền cổ năm mạch, rượu một vò, trầu cau trên trăm miếng”.
Không chỉ đối với những làng nghề đóng tàu, thuyền mà với những ngôi làng Việt nói chung, bia đá là một tài sản vô giá, một pho sử bằng đá của làng. Qua những nội dung ghi chép trong bia đá chúng ta có thêm nhiều sử liệu để tìm hiểu về nghề đóng tàu thuyền và tất cả những sinh hoạt, tập tục và đời sống của làng trong những mốc thời gian khác nhau.
Nguyên Phong
Bài viết liên quan
- Tàu sân bay Arromanches trong chiến dịch Điện Biên Phủ (26/06/2026)
- Normandie: Chiếc tàu to nhất của Pháp và đẹp nhất thế giới (26/05/2026)
- Thơ: Tháng 5 nhớ Bác & Tỉnh mới quê mình (26/05/2026)
- Trở lại với vụ tàu thủy lớn nhất thế giới Lusitania của Anh bị đánh chìm năm 1915 (24/04/2026)
- Nhịp chèo bả trạo và ước vọng bình yên của phụ nữ xã đảo (06/04/2026)
- Những chiều mưa gió cũ (06/04/2026)
- Năm Ngọ nói chuyện Ngựa (11/02/2026)
- Mùi vị Tết xưa (11/02/2026)
- Xuân về (11/02/2026)
- Tàu thuỷ mùa Xuân (11/02/2026)











