Khơi thông nguồn lực, hiện thực hóa khát vọng quốc gia biển mạnh (Phần 1)
Lợi thế biển rộng lớn, các vùng ven biển giàu tiềm năng cùng nhiều ngành kinh tế có khả năng tạo giá trị gia tăng cao đang mở ra không gian phát triển đầy triển vọng cho Việt Nam. Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã “mở đường” cho những tư duy mới, xác lập những định hướng quan trọng, tạo cơ sở tổ chức lại không gian phát triển, huy động hiệu quả nguồn lực, đổi mới phương thức khai thác lợi thế từ biển. Đây là cơ sở để Việt Nam mở rộng dư địa phát triển, đưa kinh tế biển trở thành một động lực tăng trưởng mới, hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.
Kinh tế biển - “Mỏ vàng” chưa được khai thác tương xứng
Khơi thông nguồn lực, hiện thực hóa khát vọng quốc gia biển mạnh. Ảnh: TL
Sở hữu hơn 3.260 km bờ biển cùng vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn, Việt Nam nắm giữ lợi thế tự nhiên vượt trội để phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai tại các địa phương cũng như đánh giá của Kiểm toán nhà nước (KTNN) cho thấy, không gian phát triển này vẫn như một “mỏ vàng” chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng. Đặc biệt, nhiều “điểm nghẽn” từ thể chế đến nhận thức và tổ chức thực thi cần được thẳng thắn nhận diện, tháo gỡ.
Động lực tăng trưởng chiến lược
Qua các kỳ Đại hội, Đảng và Nhà nước luôn xác định kinh tế biển là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu để tạo động lực phát triển đất nước. Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030 đã tạo dấu mốc quan trọng khi đặt không gian biển vào vị trí chiến lược trong tiến trình phát triển quốc gia, từng bước chuyển hóa các tiềm năng, lợi thế của biển thành nguồn lực và động lực tăng trưởng mới.
Định hướng này đã tạo xung lực lớn, đưa kinh tế biển trở thành trụ cột quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương, cũng như cả nước. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Ngọc Điệp cho biết, hiện nay, 21/34 tỉnh, thành phố ven biển là nơi hội tụ phần lớn dân số, các trung tâm công nghiệp, dịch vụ, hệ thống cảng biển và các khu kinh tế sôi động. Thực tiễn hoạt động của nhiều ngành kinh tế biển cũng ghi nhận những bước tiến dài. Trong đó, ngành dầu khí tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột khi đóng góp khoảng 9-10% GDP và 9-9,5% tổng thu ngân sách nhà nước. Lĩnh vực hàng hải và logistics chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc với hệ thống 320 bến cảng, tổng chiều dài cầu cảng 102 km, đáp ứng sản lượng hàng hóa thông qua đạt 1,17 tỷ tấn…
TS. Phạm Hoài Chung - Phó Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Công nghiệp tàu thủy Việt Nam nhìn nhận: Không gian biển mở ra cơ hội lớn cho logistics biển, đô thị ven biển, trung tâm thương mại tự do và các công trình kinh tế trên biển. Đây sẽ là động lực tăng trưởng chiến lược khi dư địa phát triển trên đất liền ngày càng thu hẹp. Đơn cử như ngành công nghiệp tàu thủy, Việt Nam đang cải thiện năng lực đóng tàu, với tỷ lệ nội địa hóa ngày càng cao, sẵn sàng đón cơ hội cho ngành công nghiệp vận tải biển.
Còn theo đại biểu Quốc hội Vũ Văn Tiến (Đoàn TP. Hải Phòng), kinh tế biển không chỉ thúc đẩy tăng trưởng mà còn giải quyết việc làm, tạo sinh kế cho người dân, đồng thời gắn với quản lý, bảo vệ chủ quyền, bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh năng lượng và an toàn các công trình, tuyến giao thông trọng yếu. Đối với các tỉnh ven biển, khai thác hiệu quả không gian ven biển đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Dẫn chứng từ các tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình và Hưng Yên, Kiểm toán trưởng KTNN khu vực XI Đoàn Huy Vinh cho biết, với tổng chiều dài bờ biển tự nhiên 246km, không gian biển của 3 tỉnh tạo thành một dải liên hoàn nằm trên tuyến ven biển trọng yếu Bắc Trung Bộ - Đồng bằng sông Hồng, kết nối trực tiếp với các trục giao thông, cảng biển, khu kinh tế, khu công nghiệp lớn. “Thực tiễn kiểm toán cho thấy các địa phương đều có tiềm năng phát triển kinh tế biển với lợi thế và hướng khai thác đặc thù riêng” - ông Vinh chia sẻ.
Dư địa rộng lớn nhưng khai thác chưa hiệu quả
Dù đạt được những kết quả đáng ghi nhận, song đặt trong tổng thể tiềm năng rộng lớn và những lợi thế “trời cho” của vùng biển Việt Nam, những đóng góp hiện tại của kinh tế biển vẫn chưa tương xứng. Qua thực tiễn quản lý tại các địa phương và kết quả kiểm toán, bức tranh kinh tế biển vẫn lộ rõ nhiều khoảng trống và rào cản làm suy giảm sức bật phát triển.
Trong đó, sự thiếu đồng bộ về hạ tầng và năng lực kết nối đang khiến nhiều tiềm năng bị bỏ ngỏ. Đại diện lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi cho biết, tại 12 xã, phường ven biển của tỉnh, kinh tế phát triển chưa như kỳ vọng; du lịch biển thiếu sự liên kết vùng và kết cấu hạ tầng còn yếu kém nên chưa thu hút được các nhà đầu tư lớn. Tương tự, tại Thanh Hóa, hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội vùng ven biển chưa tạo ra động lực mạnh mẽ để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế biển; việc ứng dụng khoa học - công nghệ còn hạn chế và việc huy động các nguồn lực xã hội đầu tư hạ tầng vẫn gặp nhiều khó khăn.
Cùng với đó, sự mất cân đối nghiêm trọng trong vận tải quốc gia đang gây lãng phí lớn cho lợi thế đường biển. Lãnh đạo Bộ Xây dựng cho biết, năm 2025, sản lượng vận tải hàng hóa đạt trên 3 tỷ tấn, tăng 14,1% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tỷ trọng vận tải bằng đường bộ đang chiếm tới 75,1%, đường thủy nội địa chiếm 19,8%, đường biển 4,9%, gây mất cân đối lớn trong hoạt động vận tải, làm lãng phí nguồn lực.
Mặt khác, thực tiễn kiểm toán cho thấy, công tác quản lý tài nguyên và không gian biển tại một số địa phương còn nhiều yếu kém, dẫn đến thất thu ngân sách và bỏ lỡ thế mạnh. Theo các đơn vị kiểm toán, việc khai thác nguồn lực từ biển vẫn đang có những rào cản từ công tác quy hoạch, khả năng thu hút vốn đầu tư và năng lực quản trị. Vì vậy, phát triển kinh tế biển cần được đánh giá cẩn trọng trong tổng thể để phát huy lợi thế, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng dư địa tăng trưởng của địa phương.
Tiềm năng kinh tế biển của các tỉnh vẫn là “mỏ vàng” chưa được khai thác tương xứng, trong khi nhiều rào cản đang đặt ra. Đơn cử, qua kiểm toán tại tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang), KTNN khu vực V chỉ ra một số tồn tại như việc áp dụng đơn giá thu tiền sử dụng khu vực biển cho mục đích nuôi trồng thủy sản thấp, ảnh hưởng tới nguồn thu ngân sách; địa phương chưa thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển; không xác định được phần đất mặt nước ven biển hay khu vực biển làm cơ sở thu tiền sử dụng khu vực biển…
Điểm nghẽn thể chế và tư duy khai thác manh mún, thời vụ
Những bất cập này đã được Chính phủ nhận diện, nổi lên là điểm nghẽn về thể chế khi chưa có khuôn khổ pháp lý đầy đủ, thống nhất về quản lý, sử dụng không gian biển. Theo quy định, phân vùng sử dụng biển gồm 4 loại vùng, nhưng chưa quy định cụ thể cho từng ngành như dầu khí, du lịch, nuôi trồng thủy sản, hàng hải… khiến tổ chức, cá nhân gặp khó khăn trong khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
Cùng với đó, dữ liệu tài nguyên biển còn phân tán, chưa đáp ứng yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống” phục vụ hoạch định chính sách. Cơ sở dữ liệu tại các địa phương ven biển bước đầu được xây dựng nhưng thiếu đồng bộ, kết nối liên thông, thậm chí còn chồng chéo, trùng lặp giữa Trung ương và địa phương.
Việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển cũng chưa đáp ứng yêu cầu. Hiện mới có khoảng 560 khu vực ven biển, hải đảo được thiết lập hành lang bảo vệ với tổng chiều dài gần 1.700 km, tương đương khoảng 50% chiều dài bờ biển. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, quy định về điều chỉnh khu vực cần thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển chưa rõ ràng, khiến một số địa phương lúng túng trong triển khai.
Ông Bùi Tất Thắng - Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển cũng chỉ ra, quyền tài sản đối với khu vực biển chưa được xác lập rõ đang hạn chế khả năng huy động vốn. Khi quyền sử dụng khu vực biển chưa đủ điều kiện để chuyển nhượng, góp vốn hoặc thế chấp, doanh nghiệp khó tiếp cận tín dụng để triển khai những dự án có vòng đời hàng chục năm.
Bên cạnh những điểm nghẽn về thể chế, tư duy khai thác manh mún, thời vụ dẫn tới lãng phí nguồn lực và làm giảm sức cạnh tranh của các ngành kinh tế biển.
Bởi vậy, bối cảnh mới đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển, tạo ra những giá trị mới và khai thác kinh tế biển theo hướng hiệu quả và bền vững hơn. Nghị quyết số 20-NQ/TW chính là sự cụ thể hóa tầm nhìn đó, đánh dấu bước chuyển quan trọng từ “khai thác tài nguyên biển” sang “tổ chức lại không gian phát triển biển”, tạo xung lực mới để khơi thông các nguồn lực và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Bước chuyển tư duy từ khai thác đến làm chủ không gian biển. Ảnh: Tổng công ty Hàng hải Việt Nam
Tầm nhìn chiến lược trong kỷ nguyên mới
Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (Nghị quyết 20). Nghị quyết ra đời sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Theo Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, sự ra đời của Nghị quyết 20 xuất phát từ yêu cầu mở rộng không gian phát triển. Việt Nam sở hữu vùng biển rộng lớn (hơn 1 triệu km²), mang vị trí địa chiến lược quan trọng. Trong bối cảnh dư địa trên đất liền dần tiệm cận giới hạn, vươn ra biển là xu thế tất yếu để mở rộng không gian phát triển quốc gia; cũng như ứng phó với các thách thức địa chính trị.
Cùng với đó, việc sắp xếp đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp đòi hỏi phải chuyển từ quản lý ngành đơn lẻ sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển dựa trên dữ liệu số và quy hoạch đồng bộ.
Dẫn chứng từ địa phương, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh cho biết, với định hướng của Nghị quyết 20, kinh tế biển của Quảng Ninh có thể được tổ chức theo chuỗi liên kết giữa cảng biển - logistics - công nghiệp - đô thị - du lịch - dịch vụ - thủy sản công nghệ cao, đồng thời gắn với bảo tồn các giá trị tự nhiên, văn hóa và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Các chuyên gia đánh giá, Nghị quyết 20 đánh dấu một bước ngoặt về mặt tư duy chiến lược. Nghị quyết không dừng lại ở những định hướng chung mà đặt kinh tế biển vào vị trí trung tâm của không gian phát triển quốc gia, hướng đến xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh. Theo PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, cụm từ “quốc gia biển mạnh” tại Nghị quyết vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược, vừa là đích đến, vừa là nhiệm vụ bao trùm và giải pháp cấp bách.
Nhiều ý kiến nhận định, Nghị quyết 20 xuất hiện đúng thời điểm Việt Nam cần một “cú hích” thể chế đủ mạnh để giải phóng các nguồn lực. Đây là nền tảng để sửa chữa những bất cập về đầu tư hạ tầng biển và sự phát triển manh mún tại các địa phương thời gian qua.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Lê Quang Trung - Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam - nhìn nhận, Nghị quyết 20 có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam và các doanh nghiệp hàng hải, vận tải. Đơn cử, Nghị quyết đề ra giải pháp phát triển hệ thống cảng biển nước sâu, logistics và đội tàu vận tải biển quốc tế nhằm kết nối Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu. “Đây là những yếu tố nền tảng, mang đến kỳ vọng khắc phục những điểm nghẽn bấy lâu của ngành công nghiệp hàng hải, hướng đến mục tiêu phát triển mạnh các ngành kinh tế biển” - ông Trung cho biết.
Biển trong hệ sinh thái kinh tế mở, kết nối
Theo Nghị quyết 20, biển không còn chỉ được nhìn chủ yếu qua những ngành kinh tế khai thác lợi thế biển. Xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ là câu chuyện tăng quy mô kinh tế biển, mà còn bao gồm quản trị biển, khoa học và công nghệ, môi trường, văn hóa biển, đời sống cư dân biển, quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế; đúng như tinh thần đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Kinh tế biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh. Chúng ta phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến”.
Như vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là làm thế nào để “có thêm giá trị từ biển”, mà là làm thế nào để biển trở thành một bộ phận hữu cơ trong cấu trúc sức mạnh và năng lực cạnh tranh quốc gia. Điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết là sự thay đổi tầm nhìn: Không còn nhìn biển theo từng mảnh cắt địa giới hay từng ngành riêng rẽ mà nhìn biển như một hệ sinh thái kinh tế mở hoàn chỉnh, kết nối hữu cơ giữa đất liền, vùng bờ và đại dương.
Đây là một bước chuyển có ý nghĩa đột phá về tư duy phát triển. Bởi, trong một thời gian dài, biển thường được nhìn từ những “lát cắt” tương đối riêng biệt: thủy sản, dầu khí, hàng hải, cảng biển, du lịch, năng lượng… Mỗi ngành có lợi thế, có quy hoạch, có mục tiêu phát triển riêng. Các địa phương ven biển cũng tìm cách khai thác những lợi thế riêng của mình.
Một quốc gia biển mạnh không chỉ được đánh giá bằng số lượng cảng biển, tàu hay quy mô kinh tế biển, mà quan trọng hơn là khả năng hiểu được biển, dự báo được biển, quản trị được biển, khai thác bền vững tài nguyên và từng bước làm chủ các công nghệ biển hiện đại.
Ông Trần Tuấn Anh - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Cách tiếp cận đó có vai trò nhất định trong quá trình khai mở nguồn lực biển. Nhưng khi yêu cầu phát triển bước sang giai đoạn mới, những “lát cắt” riêng biệt không còn đủ để tạo nên một không gian phát triển có tính liên kết cao.
Biển là một không gian thống nhất nhưng được nhiều ngành sử dụng. Quy hoạch không gian biển quốc gia phải tích hợp các lợi ích và giải quyết xung đột giữa các ngành, địa phương và chủ thể sử dụng biển.
TS. Vũ Hải Đăng - Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao
Chính vì vậy, khi Nghị quyết 20 xác định biển là không gian phát triển chiến lược và yêu cầu quản trị không gian biển thống nhất, liên thông, cách tiếp cận cũng chuyển từ việc nhìn từng nguồn lực riêng lẻ sang tổ chức các nguồn lực trong một chỉnh thể. Một tuyến hàng hải liên quan đến cảng biển, logistics, công nghiệp, đô thị và kết nối vùng. Một không gian phát triển năng lượng ngoài khơi liên quan đồng thời đến quy hoạch biển, công nghệ, hạ tầng, môi trường, an ninh năng lượng và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Một hệ sinh thái ven biển vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị môi trường, sinh thái và sinh kế cộng đồng,…
Làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ
Tầm nhìn từ Nghị quyết 20 cũng cho thấy, một không gian biển mạnh phải được tạo dựng bằng năng lực mới. Nghị quyết đã dành vị trí đặc biệt cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, xác định đây là động lực chủ yếu cho phát triển biển. Đây chính là sự thay đổi phương thức nhận biết, quản lý và ra quyết định đối với không gian biển.
Tại Hội thảo về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong triển khai Nghị quyết 20, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhấn mạnh yêu cầu Việt Nam phải từng bước chuyển từ “có biển, khai thác biển” sang làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Điểm đặc biệt của Nghị quyết 20 không nằm ở chỗ xác định vai trò quan trọng của biển mà ở tầm nhìn và cấp độ tiếp cận. Biển được đặt vào cấu trúc phát triển quốc gia với tư cách một không gian chiến lược; kinh tế biển được đặt trong mối quan hệ với khoa học - công nghệ, môi trường, văn hóa, quốc phòng - an ninh và đối ngoại; các nguồn lực biển được nhìn nhận trong một không gian thống nhất. “Tư duy phát triển mới không còn đi bằng "3 chân" mà phải đi bằng "5 chân": Kinh tế, xã hội, môi trường, quản trị và an ninh biển” - PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi khái quát.
Từ đó, Nghị quyết 20 đặt ra yêu cầu lớn hơn đối với cả hệ thống: Để biển thực sự trở thành không gian phát triển chiến lược, tư duy quy hoạch, phương thức quản trị, cách thức đầu tư, tổ chức hạ tầng, phát triển doanh nghiệp, nghiên cứu khoa học và phân bổ nguồn lực cũng phải được đổi mới tương ứng. Tầm nhìn về một quốc gia biển mạnh vì thế cần được hiện thực hóa bằng những chương trình hành động thực chất, bằng năng lực tổ chức và làm chủ không gian biển, “đánh thức” và phát huy các nguồn lực, tạo ra những giá trị mới, bền vững từ biển, để biển thực sự trở thành một bộ phận quan trọng trong cấu trúc sức mạnh quốc gia.
(Hết phần 1)
Nguồn: Nhóm phóng viên Báo Kiểm toán
Bài viết liên quan
- Tự tin kiến tạo một quốc gia hùng cường, thịnh vượng (07/10/2026)
- Xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hàng hải và đóng tàu Việt Nam giai đoạn 2026 – 2055: Chiến lược phát triển xanh – số – thông minh – bền vững (Phần 2) (07/10/2026)
- Bốn bước chuyển chiến lược - mệnh lệnh từ thực tiễn (28/08/2026)
- "Đủ nhanh - đủ mạnh": Tái cấu trúc ngành đóng tàu không thể chờ thêm một chu kỳ nữa (28/08/2026)
- Để đất nước “mạnh về biển, giàu từ biển” (28/08/2026)
- Xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hàng hải và đóng tàu Việt Nam giai đoạn 2026 – 2055: Chiến lược phát triển xanh – số – thông minh – bền vững (Phần 1) (27/08/2026)
- Phát triển công nghiệp đóng tàu trở thành công nghiệp nền tảng chiến lược quốc gia, vai trò then chốt trong kinh tế biển (30/07/2026)
- Ngành công nghiệp đóng tàu lớn mạnh sẽ tạo lợi thế về kinh tế, góp phần tiết giảm chi phí logisitics, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong kỷ nguyên mới của dân tộc (25/05/2026)
- Tăng trưởng hai con số - động lực của thịnh vượng (25/05/2026)
- Ngành đóng tàu Hàn Quốc giành lợi thế khi đơn hàng đóng tàu chở khí hóa lỏng (LNG) của Trung Quốc suy giảm mạnh (23/04/2026)











