Kinh tế biển trong chiến lược tăng trưởng mới của Việt Nam và yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp nền tảng (Phần 2)
Một số yêu cầu và cơ hội đối với doanh nghiệp trong bối cảnh phát triển mới của kinh tế biển

Trong bối cảnh phát triển kinh tế biển gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế sâu rộng, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp biển, đóng tàu và công nghiệp phụ trợ đang đứng trước cả yêu cầu mới và cơ hội phát triển mới.
Trước hết, nhu cầu phát triển hạ tầng logistics, vận tải biển, công nghiệp năng lượng, dịch vụ hàng hải và các hoạt động kinh tế biển đang mở ra dư địa lớn cho các doanh nghiệp kỹ thuật và công nghiệp trong nước. Đây không chỉ là cơ hội đối với các doanh nghiệp đóng tàu truyền thống mà còn đối với các doanh nghiệp cơ khí chế tạo, tự động hóa, robot công nghiệp, vật liệu, điện – điện tử, phần mềm kỹ thuật và dịch vụ kỹ thuật chuyên ngành.
Bên cạnh đó, xu hướng chuyển đổi công nghệ và nâng cao tiêu chuẩn sản xuất đang tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị sản xuất và dịch vụ kỹ thuật khu vực. Nhiều lĩnh vực trước đây phụ thuộc vào nhập khẩu hoặc doanh nghiệp nước ngoài hiện đã xuất hiện khả năng từng bước nội địa hóa thông qua sự phát triển của đội ngũ doanh nghiệp kỹ thuật trong nước.
Đặc biệt, yêu cầu về chuyển đổi số, tự động hóa và quản trị sản xuất hiện đại đang mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp phụ trợ tham gia trực tiếp vào quá trình nâng cấp công nghiệp trong các lĩnh vực đóng tàu và công nghiệp biển. Những doanh nghiệp có năng lực về robot, tự động hóa, số hóa sản xuất, thiết bị kỹ thuật và giải pháp công nghệ sẽ có điều kiện mở rộng vai trò trong hệ sinh thái công nghiệp biển và công nghiệp hỗ trợ.
Tuy nhiên, để tận dụng được các cơ hội này, các doanh nghiệp cần tăng cường liên kết, chia sẻ thông tin thị trường, hợp tác công nghệ và từng bước hình thành mạng lưới phối hợp theo chuỗi giá trị. Thực tế hiện nay cho thấy không ít doanh nghiệp có năng lực nhưng chưa có điều kiện tiếp cận các mạng lưới hợp tác lớn, thiếu thông tin về nhu cầu thị trường hoặc chưa có cơ chế kết nối phù hợp với các doanh nghiệp cùng ngành.
Trong bối cảnh đó, vai trò của các tổ chức kết nối ngành nghề, hiệp hội doanh nghiệp và cơ chế phối hợp giữa doanh nghiệp – công nghệ – đào tạo có ý nghĩa ngày càng quan trọng. Việc hình thành các diễn đàn trao đổi, mạng lưới doanh nghiệp, hoạt động kết nối công nghệ và hợp tác đào tạo sẽ góp phần tạo điều kiện để doanh nghiệp từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghiệp và kinh tế biển trong giai đoạn mới.
Một số gợi mở về cơ chế kết nối và phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp phục vụ kinh tế biển

Trong bối cảnh yêu cầu phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, bền vững và tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực, việc nâng cao năng lực của từng doanh nghiệp riêng lẻ là cần thiết nhưng chưa đủ. Thực tiễn hiện nay cho thấy một trong những hạn chế lớn là mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp trong lĩnh vực đóng tàu, công nghiệp phụ trợ và các ngành kỹ thuật liên quan còn phân tán; thông tin về năng lực, nhu cầu và khả năng hợp tác giữa các doanh nghiệp chưa được kết nối hiệu quả.
Do đó, bên cạnh việc hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh, cần quan tâm hơn đến việc hình thành các cơ chế kết nối giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với cơ sở đào tạo, tổ chức khoa học công nghệ và các đối tác công nghệ trong và ngoài nước. Đây được xem là một trong những điều kiện quan trọng để từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp phục vụ phát triển kinh tế biển. Đây cũng là yêu cầu chuyển từ tư duy phát triển theo từng ngành, từng doanh nghiệp đơn lẻ sang tư duy liên kết hệ sinh thái và chuỗi giá trị trong bối cảnh phát triển mới.
Trong quá trình đó, các hiệp hội ngành nghề có thể đóng vai trò là đầu mối kết nối, hỗ trợ chia sẻ thông tin, thúc đẩy hợp tác công nghệ, kết nối nguồn nhân lực và tạo diễn đàn trao đổi giữa các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị. Việc tổ chức các hội thảo chuyên đề, hoạt động kết nối doanh nghiệp, chia sẻ nhu cầu công nghệ và hợp tác đào tạo sẽ góp phần tạo điều kiện để các doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội hợp tác và tham gia sâu hơn vào thị trường.
Đồng thời, cần khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp phụ trợ và các cơ sở đào tạo kỹ thuật trong quá trình phát triển hệ sinh thái công nghiệp biển. Những lĩnh vực như tự động hóa, robot công nghiệp, số hóa sản xuất, vật liệu, cơ khí chính xác và giải pháp kỹ thuật đang mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo theo hướng gắn nghiên cứu – đào tạo với nhu cầu thực tế của sản xuất.
Trong giai đoạn tới, cần từng bước chuyển từ tư duy phát triển theo từng doanh nghiệp riêng lẻ sang tư duy phát triển theo hệ sinh thái và chuỗi giá trị ngành. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được đặt trong tổng thể liên kết giữa doanh nghiệp – công nghệ – đào tạo – thị trường, trên cơ sở phát huy vai trò của các hiệp hội ngành nghề và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể liên quan.
Trong giai đoạn đầu, việc triển khai các mô hình kết nối nên được thực hiện theo hướng từng bước, linh hoạt và thực chất, tập trung vào các nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp, trên cơ sở tự nguyện và cùng có lợi. Từ các hoạt động kết nối ban đầu, có thể từng bước hình thành mạng lưới doanh nghiệp, thúc đẩy hợp tác công nghệ và phát triển nguồn nhân lực phục vụ ngành công nghiệp biển trong giai đoạn tiếp theo.
Trong bối cảnh yêu cầu phát triển kinh tế biển xanh theo hướng hiện đại, bền vững và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, cần nghiên cứu một số mô hình kết nối và phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp phục vụ kinh tế biển phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Một là, nghiên cứu xây dựng mô hình các “Marine Clusters” (cụm liên kết ngành biển) theo hướng kết nối các doanh nghiệp cảng biển, vận tải biển, logistics, công nghiệp đóng tàu, năng lượng ngoài khơi, du lịch ven biển và các cơ sở đào tạo – nghiên cứu nhằm hình thành hệ sinh thái hợp tác và đổi mới công nghệ phục vụ phát triển kinh tế biển.
Hai là, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển hạ tầng logistics biển thông minh; từng bước hình thành hệ thống cảng biển hiện đại, logistics đa phương thức, kết nối dữ liệu liên vùng và hạ tầng kỹ thuật số phục vụ quản lý, vận hành và tối ưu hóa chuỗi cung ứng biển.
Ba là, thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình “kinh tế biển xanh”, ưu tiên các công nghệ ít phát thải, năng lượng tái tạo ngoài khơi, logistics xanh và quản lý bền vững tài nguyên biển. Quá trình này cần bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường biển và sinh kế cộng đồng dân cư ven biển; đồng thời mở ra cơ hội phát triển các lĩnh vực mới như năng lượng gió ngoài khơi, năng lượng mặt trời trên biển và tín chỉ carbon xanh.
Bốn là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh tế biển; khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị biển bền vững trên cơ sở tăng cường liên kết công nghệ, nâng cao tiêu chuẩn kỹ thuật và thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ sở đào tạo, tổ chức khoa học công nghệ và các đối tác quốc tế.

Kết luận và một số kiến nghị
Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam hướng tới trở thành quốc gia biển mạnh, bền vững cụ thể: Mục tiêu và Tầm nhìn Chiến lược.
Đến 2030: Trở thành quốc gia biển mạnh, đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển.
Tầm nhìn đến 2045: Trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào GDP cả nước.
Trọng tâm là phát triển "kinh tế biển xanh", đẩy mạnh du lịch, dịch vụ biển, kinh tế hàng hải, khai thác dầu khí, nuôi trồng thủy hải sản, và năng lượng tái tạo, đồng thời ứng phó biến đổi khí hậu.
Với tầm Nhìn chiến lược trên kinh tế biển đang ngày càng được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với năng lực công nghiệp quốc gia, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tham gia chuỗi giá trị khu vực và quốc tế. Điều này đòi hỏi việc phát triển kinh tế biển với tư duy hệ thống trong quản trị xử lý tổng hợp một số vấn đề đặt ra:
(1) Nghiên cứu sử dụng bộ chỉ số ICOM (Integrated Coastal and Ocean Management) - Quản lý tổng hợp vùng bờ và dương của IUCN. Là công cụ quan trọng nhằm đánh giá hiệu quả, tiến độ và kết quả của các nỗ lực quản lý tài nguyên, môi trường ven biển. Bộ chỉ số này giúp chuyển đổi các mục tiêu chính sách thành hành động thực tế, cân bằng giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và công bằng xã hội.
Các nội dung chính trong nghiên cứu bộ chỉ số ICOM: Đo lường hiệu quả: Đánh giá tính bền vững về môi trường, xã hội và kinh tế, công nghệ biểu, đảo vùng bờ và đại dương. Phân vùng: Phân vùng nhạy cảm môi trường, quản lý khu bảo tồn biển. Quản lý từ đỉnh núi đến rạn san hô, kết hợp các bên liên quan.
Việt Nam đã ban hành Thông tư số 01/2025/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Quy định bộ chỉ tiêu thống kê quốc gia về biển và hải đảo và bộ chỉ tiêu đánh giá quốc gia biển mạnh Mục đích: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phục vụ quản lý, thống kê và đánh giá tình hình kinh tế - xã hội, môi trường biển và hải đảo. Phạm vi: Quy định chi tiết các bộ chỉ tiêu quốc gia về biển, bao gồm các chỉ số thống kê và đánh giá. Hiệu lực: Bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 3 năm 2025.
(2) Đối với các lĩnh vực như công nghiệp đóng tàu, công nghiệp phụ trợ, cơ khí biển, logistics kỹ thuật và các ngành công nghệ liên quan, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là nâng cao năng lực sản xuất, mà còn là tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, đổi mới công nghệ, nâng cao tiêu chuẩn kỹ thuật và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị sản xuất và dịch vụ quốc tế.
Thực tiễn cho thấy Việt Nam đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp có năng lực trong các lĩnh vực đóng tàu, cơ khí, tự động hóa, robot công nghiệp, số hóa sản xuất và dịch vụ kỹ thuật. Tuy nhiên, việc kết nối giữa các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với cơ sở đào tạo và tổ chức khoa học công nghệ hiện vẫn còn phân tán. Đây vừa là hạn chế, nhưng đồng thời cũng là dư địa để hình thành các mô hình kết nối và hợp tác mới trong giai đoạn tới.
(3) Trong chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững không chỉ phụ thuộc vào đầu tư hạ tầng hay mở rộng quy mô sản xuất, mà quan trọng hơn là hình thành được năng lực công nghiệp, năng lực công nghệ và hệ sinh thái doanh nghiệp đủ khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và quốc tế. Đây cũng là điều kiện quan trọng để nâng cao tính tự chủ, sức chống chịu và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh mới.
GS.TS. Thượng tướng Nguyễn Văn Thành
Nguyên Bí thư Thành ủy Hải Phòng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an,
Phó Chủ nhiệm chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2021 - 2026
Bài viết liên quan
- Kinh tế biển trong chiến lược tăng trưởng mới của Việt Nam và yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp nền tảng (Phần 1) (30/07/2026)
- Nâng cao năng lực đóng mới, sửa chữa và hoán cải tàu:“Dịch chuyển sang mô hình nhà máy thông minh và xanh” (26/06/2026)
- Nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động các tuyến vận tải đường thủy nội địa (26/05/2026)
- Chính phủ Nhật Bản hồi sinh ngành đóng tàu vì an ninh kinh tế (24/04/2026)
- Đánh giá ảnh hưởng tuyến luồng vận tải thủy nội địa khu vực phía bắc đến năng lực cạnh tranh của ngành vận tải thủy nội địa Việt Nam (Phần 3) (03/04/2026)
- Đánh giá ảnh hưởng tuyến luồng vận tải thủy nội địa khu vực phía bắc đến năng lực cạnh tranh của ngành vận tải thủy nội địa Việt Nam (Phần 2) (03/04/2026)
- Đánh giá ảnh hưởng tuyến luồng vận tải thủy nội địa khu vực phía bắc đến năng lực cạnh tranh của ngành vận tải thủy nội địa Việt Nam (Phần 1) (03/04/2026)
- Yếu tố con người trong bảo đảm an toàn hàng hải: Nghiên cứu tổng quan (Phần 2) (07/01/2026)
- Yếu tố con người trong bảo đảm an toàn hàng hải: Nghiên cứu tổng quan (Phần 1) (01/12/2025)
- Đáy biển: Hệ sinh thái an ninh chiến lược trong tương lai (24/10/2025)











