Phát triển kinh tế biển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (Phần 1)

1. Vai trò của kinh tế biển trong bối cảnh phát triển mới
Bước sang thế kỷ XXI, kinh tế biển trở thành một trong những không gian phát triển chiến lược quan trọng nhất của thế giới. Dưới tác động của toàn cầu hóa, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, quan niệm về kinh tế biển đã có sự thay đổi căn bản. Nếu như trước đây, biển chủ yếu được nhìn nhận như không gian khai thác tài nguyên và vận tải hàng hải, thì hiện nay biển đang được tiếp cận như một hệ sinh thái phát triển tổng hợp, tích hợp giữa công nghiệp hiện đại, công nghệ cao, năng lượng tái tạo, logistics quốc tế, kinh tế số, đổi mới sáng tạo và kinh tế sáng tạo. Nói cách khác, kinh tế biển toàn cầu đang chuyển mạnh từ mô hình “khai thác biển” sang mô hình “kiến tạo giá trị từ biển”.
Xu hướng nổi bật nhất hiện nay là sự chuyển đổi sang mô hình kinh tế biển xanh và phát triển bền vững. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường và suy giảm tài nguyên đại dương ngày càng nghiêm trọng, các quốc gia ngày càng coi trọng việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái biển, giảm phát thải carbon và sử dụng hiệu quả tài nguyên biển. Vì vậy, các ngành kinh tế biển có hàm lượng công nghệ cao, tiêu hao ít tài nguyên và phát thải thấp đang dần trở thành động lực tăng trưởng chủ đạo của nền kinh tế biển hiện đại. Trong xu thế đó, năng lượng tái tạo ngoài khơi nổi lên như một trụ cột chiến lược mới của kinh tế biển. Điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh và các ngành công nghiệp carbon thấp không chỉ tạo ra nguồn năng lượng sạch quy mô lớn mà còn thúc đẩy hình thành các hệ sinh thái công nghiệp mới gồm cơ khí biển, vật liệu mới, công nghệ lưu trữ năng lượng, cảng biển chuyên dụng và dịch vụ kỹ thuật đại dương. Song song với đó là sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt về logistics và cảng biển quốc tế. Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, năng lực kiểm soát các tuyến vận tải biển, trung tâm trung chuyển hàng hóa và chuỗi logistics quốc tế đang trở thành yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh và ảnh hưởng chiến lược của quốc gia.
Cùng với chuyển đổi năng lượng và logistics, kinh tế số biển và công nghệ đại dương cũng đang phát triển mạnh mẽ. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, vệ tinh, robot biển, internet vạn vật và các nền tảng số đang làm thay đổi căn bản phương thức quản trị và khai thác biển. Dữ liệu và công nghệ đang trở thành nền tảng cốt lõi của kinh tế biển hiện đại, giúp nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên, tối ưu hóa logistics, dự báo môi trường biển và bảo đảm an ninh hàng hải. Nhiều quốc gia đã bắt đầu xây dựng mô hình “đại dương thông minh”, trong đó năng lực công nghệ trở thành yếu tố quyết định vị thế cạnh tranh quốc gia trên biển.
Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo toàn cầu phát triển mạnh, công nghiệp văn hóa biển đang nổi lên như một lĩnh vực tăng trưởng mới có giá trị gia tăng cao. Nhiều quốc gia đã chuyển hóa các giá trị văn hóa biển, lịch sử hàng hải, di sản biển đảo và bản sắc đại dương thành các ngành công nghiệp có sức lan tỏa lớn như điện ảnh, du lịch trải nghiệm, nghệ thuật, truyền thông số và giải trí biển. Điều đó cho thấy kinh tế biển hiện đại không chỉ được đo bằng sản lượng khai thác hay quy mô thương mại mà còn bằng năng lực sáng tạo, khả năng xây dựng thương hiệu quốc gia và sức mạnh mềm quốc tế.
Những xu hướng phát triển đó đang tạo ra cả thời cơ và thách thức lớn đối với Việt Nam. Với hơn 3.260 km bờ biển, hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ cùng vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km², gấp khoảng ba lần diện tích đất liền và vị trí nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển hiện đại. Biển không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng về chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Thực tiễn cho thấy, phần lớn các trung tâm công nghiệp, đô thị, cảng biển, logistics và hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam hiện nay đều tập trung ở khu vực ven biển. Các hành lang kinh tế ven biển đang từng bước hình thành cấu trúc không gian phát triển mới của nền kinh tế quốc gia, trong đó biển giữ vai trò là trục liên kết chiến lược giữa phát triển trong nước với kinh tế khu vực và toàn cầu.
Trong giai đoạn phát triển mới, kinh tế biển ngày càng giữ vai trò là không gian tăng trưởng chiến lược của Việt Nam. Trong bối cảnh dư địa tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp, biển nổi lên như một trong những động lực phát triển mới có khả năng tạo ra bước chuyển căn bản về quy mô kinh tế, năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia. Không chỉ tạo không gian phát triển mới, kinh tế biển còn là nền tảng để Việt Nam nâng cao năng lực hội nhập quốc tế và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Với lợi thế nằm trên tuyến hàng hải quốc tế trọng yếu kết nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, Việt Nam có tiềm năng trở thành trung tâm logistics, trung chuyển hàng hóa và dịch vụ hàng hải quan trọng của khu vực nếu tận dụng tốt vị trí địa kinh tế chiến lược của mình.
Đặc biệt, trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và chuyển đổi năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam có cơ hội lớn để phát triển các ngành kinh tế biển mới, như: logistics quốc tế, cảng biển trung chuyển, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp công nghệ biển, kinh tế số biển và công nghiệp văn hóa biển. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Việt Nam có tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi khoảng 475 GW - thuộc nhóm quốc gia có tiềm năng lớn nhất Đông Nam Á. Đây không chỉ là cơ sở để bảo đảm an ninh năng lượng mà còn mở ra khả năng hình thành các chuỗi công nghiệp năng lượng biển mới có giá trị gia tăng cao và năng lực cạnh tranh quốc tế.
Bên cạnh vai trò kinh tế, biển còn có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế biển luôn gắn chặt với bảo vệ chủ quyền biển, đảo, giữ vững môi trường hòa bình và bảo đảm lợi ích quốc gia trên biển. Trong điều kiện cạnh tranh địa - chính trị và các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, sự phát triển của kinh tế biển không chỉ tạo nguồn lực vật chất cho đất nước mà còn góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, tăng cường hiện diện kinh tế và dân sự trên các vùng biển, đảo.
Đồng thời, kinh tế biển còn có vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế và sức mạnh mềm quốc gia. Việc phát triển du lịch biển, công nghiệp văn hóa biển, các đô thị biển hiện đại và thương hiệu quốc gia biển sẽ góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, nâng cao sức hấp dẫn và vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gắn với năng lực sáng tạo, khả năng kết nối và sức mạnh mềm quốc gia, đây là yếu tố có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, nếu tiếp tục phát triển theo mô hình dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và tăng trưởng theo chiều rộng, kinh tế biển Việt Nam sẽ khó tạo được đột phá chiến lược. Những hạn chế về thể chế quản trị biển, hạ tầng logistics, công nghệ biển, chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi số và mức độ liên kết vùng đang trở thành các điểm nghẽn lớn đối với phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện nay. Đồng thời, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và cạnh tranh địa chính trị trên Biển Đông cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với phát triển bền vững và bảo đảm an ninh quốc gia trên biển.
Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, phát triển các động lực kinh tế mới dựa trên động lực chủ yếu là khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế xanh; trong đó xác định “Phát triển mạnh các ngành kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên biển, phát triển kinh tế biển sâu để khai thác, sử dụng hiệu quả không gian biển”[1]. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải chuyển đổi căn bản mô hình phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, xanh, số và bền vững; lấy công nghiệp biển công nghệ cao, logistics quốc tế, năng lượng tái tạo ngoài khơi, kinh tế số biển và công nghiệp văn hóa biển làm các trụ cột tăng trưởng mới. Đây không chỉ là yêu cầu phát triển kinh tế mà còn là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng cường tự chủ chiến lược về kinh tế, củng cố chủ quyền biển đảo và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển trong giai đoạn phát triển mới.

2. Tiềm năng phát triển kinh tế biển Việt Nam
Việt Nam là một trong số ít quốc gia ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương có sự hội tụ đồng thời của nhiều lợi thế chiến lược về vị trí địa kinh tế, không gian biển, tài nguyên tự nhiên, hệ thống ven biển và chiều sâu văn hóa biển, đảo. Trong bối cảnh kinh tế biển đang trở thành động lực phát triển mới của thế giới, những lợi thế đó tạo cho Việt Nam tiềm năng lớn để hình thành mô hình kinh tế biển hiện đại dựa trên công nghiệp, logistics, năng lượng tái tạo, kinh tế số và công nghiệp sáng tạo biển.
Thứ nhất, Việt Nam có tiềm năng đặc biệt lớn về vị trí địa kinh tế và không gian biển chiến lược. Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, tiếp giáp Biển Đông - một trong những tuyến hàng hải quan trọng và nhộn nhịp nhất thế giới. Theo nhiều nghiên cứu quốc tế, khoảng 50% lượng hàng hóa vận tải biển toàn cầu đi qua khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Biển Đông; riêng giá trị thương mại lưu thông qua Biển Đông mỗi năm ước đạt khoảng 3.000 - 5.000 tỷ USD[2]. Đây là tuyến kết nối chiến lược giữa Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, giữa Đông Á với châu Âu, Trung Đông và châu Phi. Với vị trí nằm trên trục giao thương này, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để trở thành đầu mối trung chuyển logistics, dịch vụ hàng hải và thương mại quốc tế của khu vực.
Theo thống kê, 22/34 tỉnh, thành phố hiện nay của Việt Nam có biển; khu vực ven biển hiện là nơi sinh sống của khoảng hơn 50% dân số và đóng góp phần lớn các hoạt động thương mại quốc tế của đất nước[3]. Không gian biển rộng lớn này không chỉ tạo dư địa phát triển kinh tế mà còn mở ra khả năng tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng “tiến ra biển”, lấy biển làm trục động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên mới.
Cùng với lợi thế địa chiến lược, Việt Nam sở hữu hệ thống cảng biển phân bố rộng khắp với 34 cảng biển và gần 300 bến cảng lớn nhỏ trải dài từ Bắc vào Nam. Một số cụm cảng nước sâu như Hải Phòng, Cái Mép - Thị Vải, Vân Phong, Đà Nẵng có khả năng tiếp nhận tàu container trọng tải lớn từ 100.000 DWT trở lên. Đặc biệt, cụm cảng Cái Mép - Thị Vải hiện là một trong số ít cảng của khu vực Đông Nam Á có khả năng tiếp nhận tàu container siêu lớn đi thẳng tới châu Âu và Bắc Mỹ. Theo Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng), sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam năm 2024 đạt trên 860 triệu tấn. Điều này cho thấy tiềm năng rất lớn để Việt Nam phát triển logistics biển và từng bước hình thành trung tâm trung chuyển hàng hóa quốc tế trong tương lai[4].
Thứ hai, Việt Nam có tiềm năng nổi bật về tài nguyên biển và năng lượng biển. Tiềm năng chiến lược lớn của Việt Nam hiện nay nằm ở các lĩnh vực năng lượng tái tạo ngoài khơi. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam có tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi lên tới khoảng 475 GW - thuộc nhóm quốc gia có tiềm năng lớn nhất Đông Nam Á. Trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng toàn cầu và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đây là lợi thế chiến lược đặc biệt quan trọng để Việt Nam phát triển nền kinh tế carbon thấp và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng sạch toàn cầu[5]. Không chỉ tạo ra nguồn điện sạch quy mô lớn, điện gió ngoài khơi còn kéo theo sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp mới như cơ khí biển, vật liệu mới, công nghệ lưu trữ năng lượng, hydrogen xanh, dịch vụ kỹ thuật ngoài khơi và logistics năng lượng biển. Theo dự báo của nhiều tổ chức nghiên cứu năng lượng quốc tế, ngành điện gió ngoài khơi có thể tạo ra hàng trăm nghìn việc làm kỹ thuật cao và hình thành hệ sinh thái công nghiệp mới cho Việt Nam trong vài thập niên tới[6].
Về trữ lượng dầu khí, Biển Đông được đánh giá là một trong 5 bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Một báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính ở Biển Đông có 900.000 tỷ feet khối trữ lượng khí đốt tự nhiên và dầu mỏ, tương đương 7 tỷ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bế trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi. Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ m3. Đây là một nguồn tài nguyên vô cùng quý báu cho phát triển và tạo đột phá về kinh tế cho Việt Nam[7]. Trên thực tế, trong nhiều năm qua, dầu khí vẫn là một trong những ngành kinh tế biển quan trọng, đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước, an ninh năng lượng và phát triển công nghiệp quốc gia.
Về tài nguyên băng cháy, khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần, được Cục Địa chất Hoa Kỳ (USGS) đánh giá đứng hàng thứ năm ở châu Á về tiềm năng băng cháy. Các vùng biển Việt Nam có tiềm năng cao về băng cháy được sắp xếp theo thứ tự: (1) Đông Bắc bể Nam Côn Sơn; (2) trũng Vũng Mây; (3) trung tâm bế Phú Khánh; (4) Tây Hoàng Sa; khu vực Đông Bắc bể Nam Côn Sơn là vùng có triển vọng cao nhất[8].
Bên cạnh đó, Việt Nam còn nằm trong nhóm các quốc gia có tính đa dạng sinh học biển cao trên thế giới với khoảng 11.000 loài sinh vật biển đã được ghi nhận. Hệ sinh thái biển nhiệt đới phong phú gồm rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn và vùng biển nhiệt đới mở ra tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế sinh học biển, nuôi biển công nghệ cao, dược liệu biển và các ngành kinh tế xanh gắn với bảo tồn hệ sinh thái đại dương. Đây là những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao và phù hợp với xu thế phát triển bền vững hiện nay.
Thứ ba, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển công nghiệp biển hiện đại và các chuỗi giá trị biển mới. Trong xu hướng phát triển toàn cầu, công nghiệp đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của các quốc gia biển. Với lợi thế không gian ven biển rộng lớn và vị trí giao thương quốc tế thuận lợi, Việt Nam có điều kiện phát triển nhiều ngành công nghiệp chiến lược như công nghiệp năng lượng biển, công nghiệp đóng tàu, cơ khí biển, công nghiệp logistics, công nghiệp chế biến và công nghiệp công nghệ biển.
Đặc biệt, logistics và cảng biển được xem là một trong những lĩnh vực giàu tiềm năng nhất. Hiện nay, trong cơ cấu vận chuyển hàng hóa của Việt Nam, vận tải biển tiếp tục giữ vai trò chủ đạo khi chiếm khoảng 60% khối lượng hàng xuất khẩu và 54% hàng nhập khẩu[9]. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, nếu phát triển đồng bộ hệ thống cảng nước sâu, logistics thông minh và hạ tầng kết nối liên vùng, Việt Nam có khả năng trở thành trung tâm logistics quan trọng của Đông Nam Á. Đồng thời, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa và internet vạn vật đang mở ra khả năng hình thành các ngành công nghiệp công nghệ biển và kinh tế số biển - những lĩnh vực được xem là động lực tăng trưởng mới của kinh tế đại dương toàn cầu.
Thứ tư, Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa biển đặc sắc, tạo nền tảng quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa biển và kinh tế sáng tạo biển. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, biển đã trở thành một bộ phận quan trọng trong không gian văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam. Hệ thống lễ hội biển, không gian văn hóa làng biển, di sản thương cảng cổ như Hội An, Vân Đồn, tín ngưỡng thờ cá Ông, văn hóa chủ quyền biển, đảo và tri thức dân gian đi biển tạo nên kho tàng văn hóa biển có giá trị lớn cả về lịch sử, xã hội và kinh tế.
Hiện nay, du lịch biển đóng góp khoảng 70% tổng doanh thu du lịch cả nước[10]; nhiều trung tâm du lịch biển như Hạ Long, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc đã trở thành thương hiệu quốc tế. Điều này cho thấy tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch văn hóa biển chất lượng cao gắn với kinh tế trải nghiệm, kinh tế đêm và hệ sinh thái sáng tạo ven biển. Đồng thời, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số cũng mở ra dư địa lớn cho các ngành công nghiệp nội dung số biển như điện ảnh biển, game, thực tế ảo (VR/AR), bảo tàng số và truyền thông số về biển đảo. Đặc biệt, công nghiệp văn hóa biển không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn có ý nghĩa chiến lược trong việc xây dựng thương hiệu quốc gia biển Việt Nam và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gắn với năng lực sáng tạo và ảnh hưởng văn hóa, việc phát triển các sản phẩm văn hóa biển mang tầm quốc tế sẽ góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao nhận thức cộng đồng về biển đảo và củng cố vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Có thể khẳng định rằng, Việt Nam đang sở hữu những điều kiện đặc biệt thuận lợi để phát triển kinh tế biển hiện đại với các trụ cột chiến lược gồm công nghiệp biển, logistics biển, năng lượng tái tạo, kinh tế số biển và công nghiệp văn hóa biển. Nếu có thể chuyển hóa hiệu quả các tiềm năng đó thành năng lực phát triển thực tế thông qua đổi mới thể chế, phát triển hạ tầng chiến lược, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao, kinh tế biển sẽ trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
(Hết phần 1)
PGS.TS. Vũ Trọng Lâm
Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t.I, tr.95.
[2] Xem “South China Sea”, U.S. Energy Information Administration, 21/3/2024, https://www.eia.gov/international/analysis/regions-of-interest/South_China_Sea
[3] Xem “Hành trình vươn lên biển lớn - xây dựng quốc gia mạnh về biển, giàu có từ biển”, Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ngày 10/11/2025, https://mae.gov.vn/SuKien80Nam/Pages/chi-tiet-tin-tuc.aspx?ItemID=69
[4] Xem Phi Long: “Cảng biển, hàng hải Việt Nam khẳng định vị thế trên bản đồ quốc tế”, Trang thông tin điện tử Cảng Sài Gòn, ngày 04/02/2025, https://saigonport.vn/cang-bien-hang-hai-viet-nam-khang-dinh-vi-the-tren-ban-do-quoc-te/
[5] World Bank: “Báo cáo cuối cùng: Lộ trình điện gió ngoài khơi cho Việt Nam”, https://documents1.worldbank.org/curated/en/602321623055565215/pdf/Offshore-Wind-Development-Program-Offshore-Wind-Roadmap-for-Vietnam.pdf, 2020
[6] Xem Ngọc Linh: “Ngành điện gió ngoài khơi có thể tạo ra hàng nghìn cơ hội việc làm chất lượng”, Báo Công Thương điện tử, ngày 28/3/2024, https://congthuong.vn/nganh-dien-gio-ngoai-khoi-co-the-tao-ra-hang-nghin-co-hoi-viec-lam-chat-luong-311435.html
[7] Xem TS. Bùi Thị Thu Hiền: Biển Đông từ góc nhìn lợi ích của các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr.305-306.
[8] Xem TS. Bùi Thị Thu Hiền: Biển Đông từ góc nhìn lợi ích của các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Sđd, tr.306.
[9] Xem Văn Giáp: “Ngành cảng biển Việt Nam trước cơ hội tăng trưởng và thách thức mới”, Báo điện tử VietnamPlus, ngày 18/3/2026, https://www.vietnamplus.vn/nganh-cang-bien-viet-nam-truoc-co-hoi-tang-truong-va-thach-thuc-moi-post1099669.vnp
[10] Xem PGS.TS. Nguyễn Thị Song Hà: “Phát triển du lịch biển, đảo chuyên nghiệp, trở thành điểm đến hấp dẫn”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 04/02/2024, https://baochinhphu.vn/bai-2-phat-trien-du-lich-bien-dao-chuyen-nghiep-tro-thanh-diem-den-hap-dan-102240129215948802.htm
Bài viết liên quan
- Kinh tế biển trong chiến lược tăng trưởng mới của Việt Nam và yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp nền tảng (Phần 2) (28/08/2026)
- Kinh tế biển trong chiến lược tăng trưởng mới của Việt Nam và yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp nền tảng (Phần 1) (30/07/2026)
- Nâng cao năng lực đóng mới, sửa chữa và hoán cải tàu:“Dịch chuyển sang mô hình nhà máy thông minh và xanh” (26/06/2026)
- Nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động các tuyến vận tải đường thủy nội địa (26/05/2026)
- Chính phủ Nhật Bản hồi sinh ngành đóng tàu vì an ninh kinh tế (24/04/2026)
- Đánh giá ảnh hưởng tuyến luồng vận tải thủy nội địa khu vực phía bắc đến năng lực cạnh tranh của ngành vận tải thủy nội địa Việt Nam (Phần 3) (03/04/2026)
- Đánh giá ảnh hưởng tuyến luồng vận tải thủy nội địa khu vực phía bắc đến năng lực cạnh tranh của ngành vận tải thủy nội địa Việt Nam (Phần 2) (03/04/2026)
- Đánh giá ảnh hưởng tuyến luồng vận tải thủy nội địa khu vực phía bắc đến năng lực cạnh tranh của ngành vận tải thủy nội địa Việt Nam (Phần 1) (03/04/2026)
- Yếu tố con người trong bảo đảm an toàn hàng hải: Nghiên cứu tổng quan (Phần 2) (07/01/2026)
- Yếu tố con người trong bảo đảm an toàn hàng hải: Nghiên cứu tổng quan (Phần 1) (01/12/2025)











