Phát triển kinh tế biển theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW Đại hội XIV của Đảng (Phần 2)

Vai trò của công nghiệp trong tạo động lực tăng trưởng kinh tế biển
Trong xu thế phát triển mới của kinh tế thế giới, công nghiệp đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của các quốc gia biển. Nếu như trong giai đoạn trước, tăng trưởng kinh tế biển chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên tự nhiên và lợi thế địa lý, thì hiện nay, động lực cốt lõi của kinh tế biển hiện đại lại nằm ở trình độ công nghiệp hóa, năng lực công nghệ và khả năng tổ chức các chuỗi giá trị biển có hàm lượng tri thức cao. Điều này cho thấy, muốn phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững, Việt Nam không thể chỉ dừng lại ở khai thác lợi thế tự nhiên mà phải lấy công nghiệp làm trụ cột trung tâm của quá trình tái cấu trúc không gian kinh tế biển quốc gia. Vai trò của công nghiệp trong tạo động lực kinh tế biển thể hiện ở những nội dung sau:
Trước hết, công nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra giá trị gia tăng cao cho kinh tế biển. Điểm khác biệt căn bản giữa mô hình kinh tế biển truyền thống và kinh tế biển hiện đại nằm ở chỗ: thay vì xuất khẩu tài nguyên thô hoặc khai thác các ngành giá trị thấp, các quốc gia phát triển đang tập trung xây dựng hệ sinh thái công nghiệp biển công nghệ cao nhằm tối đa hóa giá trị gia tăng từ tài nguyên, không gian và dữ liệu biển. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các ngành tạo ra giá trị lớn nhất trong kinh tế biển hiện nay không còn là khai thác đơn thuần mà là công nghiệp năng lượng ngoài khơi, logistics biển, công nghệ đại dương, cơ khí biển, công nghiệp vật liệu, công nghệ sinh học biển và các ngành công nghiệp sáng tạo biển. Đối với Việt Nam, việc phát triển các ngành công nghiệp biển hiện đại không chỉ giúp nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên mà còn tạo ra nền tảng mới cho tăng trưởng dài hạn, nâng cao năng suất lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Thứ hai, công nghiệp biển giữ vai trò trung tâm trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của kinh tế biển Việt Nam. Trong nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế biển của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và mở rộng quy mô theo chiều rộng. Mô hình này đang bộc lộ ngày càng rõ những giới hạn về hiệu quả kinh tế, sức cạnh tranh và tính bền vững. Trong khi đó, công nghiệp biển hiện đại đang chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác sang mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế xanh. Đây không chỉ là sự thay đổi về cơ cấu ngành mà còn là sự chuyển đổi về chất của nền kinh tế biển. Sự phát triển của các ngành như điện gió ngoài khơi, logistics thông minh, công nghệ đại dương, dữ liệu biển hay công nghiệp sinh học biển sẽ tạo ra những ngành kinh tế mới có giá trị gia tăng cao, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh của nền kinh tế quốc gia.
Thứ ba, ở tầm chiến lược rộng hơn, công nghiệp biển có vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và cạnh tranh địa kinh tế ngày càng gay gắt. Trong nền kinh tế hiện đại, khả năng kiểm soát logistics, năng lượng, công nghệ và dữ liệu biển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia. Những quốc gia có hệ sinh thái công nghiệp biển mạnh thường đồng thời là những quốc gia có vị thế lớn trong thương mại quốc tế, chuỗi cung ứng toàn cầu và cấu trúc kinh tế khu vực. Đối với Việt Nam, phát triển công nghiệp biển không chỉ nhằm thúc đẩy tăng trưởng mà còn là điều kiện để nâng cao vị thế quốc gia biển, gia tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động toàn cầu và mở rộng không gian phát triển chiến lược trong dài hạn.
Thứ tư, công nghiệp thúc đẩy hình thành các chuỗi giá trị biển mới - yếu tố cốt lõi của kinh tế biển hiện đại. Trong xu hướng phát triển hiện nay, giá trị lớn nhất của kinh tế biển không nằm ở từng ngành riêng lẻ mà nằm ở khả năng liên kết giữa các ngành để hình thành hệ sinh thái kinh tế biển tích hợp. Trong đó, chuỗi năng lượng biển được xem là một trong những chuỗi giá trị chiến lược nhất. Việc phát triển điện gió ngoài khơi không chỉ dừng ở sản xuất điện mà còn kéo theo sự phát triển của cơ khí biển, đóng tàu chuyên dụng, vật liệu mới, công nghệ lưu trữ năng lượng, cảng biển kỹ thuật và dịch vụ vận hành ngoài khơi. Nếu được tổ chức bài bản, đây có thể trở thành hệ sinh thái công nghiệp mới có khả năng lan tỏa mạnh tới toàn bộ nền kinh tế.
Cùng với chuỗi năng lượng biển, chuỗi logistics và cảng biển cũng có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng. Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, logistics không còn là hoạt động hỗ trợ thương mại đơn thuần mà đã trở thành một ngành công nghiệp có giá trị gia tăng rất lớn. Sự phát triển của cảng biển hiện đại, logistics thông minh, trung tâm trung chuyển quốc tế và hệ thống vận tải biển tích hợp sẽ giúp Việt Nam nâng cao vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây cũng là lĩnh vực có tác động lan tỏa mạnh đến thương mại, công nghiệp chế biến, xuất nhập khẩu và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ năm, sự phát triển của công nghệ số và khoa học đại dương đang mở ra khả năng hình thành chuỗi công nghiệp công nghệ biển - lĩnh vực được xem là “kinh tế biển của tương lai”. Các ngành như dữ liệu đại dương, trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển, robot biển, công nghệ giám sát biển, internet vạn vật biển và công nghệ vật liệu biển sẽ trở thành những ngành kinh tế có vai trò ngày càng lớn trong cấu trúc kinh tế toàn cầu. Song song với đó, chuỗi công nghiệp sinh học biển cũng đang nổi lên như một lĩnh vực giàu tiềm năng nhờ khả năng tạo ra các sản phẩm có giá trị cao trong y dược, thực phẩm chức năng, vật liệu sinh học và nuôi biển công nghệ cao. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo đột phá lớn cho tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn biển của Việt Nam trong tương lai.
Thứ sáu, bên cạnh các ngành công nghiệp vật chất, công nghiệp văn hóa biển đang ngày càng khẳng định vai trò là “động lực mềm” của kinh tế biển hiện đại. Trong nền kinh tế sáng tạo toàn cầu, giá trị kinh tế không chỉ được tạo ra từ tài nguyên vật chất mà còn từ bản sắc văn hóa, sức sáng tạo và khả năng xây dựng thương hiệu quốc gia. Đối với Việt Nam, hệ thống di sản biển đảo, lễ hội biển, văn hóa làng biển, lịch sử hàng hải và không gian văn hóa đại dương là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo biển. Việc chuyển hóa các giá trị văn hóa biển thành sản phẩm du lịch, điện ảnh, nghệ thuật, truyền thông số, festival quốc tế hay kinh tế trải nghiệm không chỉ tạo ra nguồn thu kinh tế mới mà còn góp phần định vị thương hiệu quốc gia biển Việt Nam trong môi trường cạnh tranh toàn cầu.
Không chỉ tạo giá trị kinh tế, công nghiệp văn hóa biển còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế trải nghiệm - xu hướng đang ngày càng phát triển mạnh trên thế giới. Khác với các ngành khai thác tài nguyên truyền thống, công nghiệp văn hóa có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao nhưng tiêu hao ít tài nguyên tự nhiên, đồng thời góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa và hệ sinh thái biển. Đây là hướng phát triển đặc biệt phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững trong giai đoạn mới. Quan trọng hơn, công nghiệp văn hóa biển còn có ý nghĩa chiến lược trong việc quảng bá hình ảnh quốc gia và củng cố chủ quyền biển, đảo. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gắn với sức mạnh mềm, các sản phẩm văn hóa biển có khả năng lan tỏa hình ảnh quốc gia, nâng cao nhận thức xã hội về biển đảo và củng cố bản sắc quốc gia biển Việt Nam. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề văn hóa, chính trị và chiến lược quốc gia trong dài hạn.
Thứ bảy, sự phát triển của công nghiệp biển và các chuỗi giá trị biển mới cũng đang tạo điều kiện để hình thành các cực tăng trưởng biển mới của Việt Nam. Khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh đang nổi lên như trung tâm cảng biển, logistics và công nghiệp biển lớn nhất miền Bắc, đồng thời là cửa ngõ kết nối Việt Nam với thị trường Đông Bắc Á. Đà Nẵng và miền Trung có tiềm năng phát triển thành trung tâm logistics, công nghệ biển và dịch vụ biển quốc tế nhờ vị trí trung chuyển chiến lược trên hành lang kinh tế Đông - Tây. Khánh Hòa và Nam Trung Bộ có lợi thế đặc biệt về cảng nước sâu, kinh tế biển công nghệ cao và du lịch biển quốc tế. Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục giữ vai trò trung tâm dầu khí, năng lượng và logistics biển lớn nhất cả nước, đồng thời có tiềm năng trở thành trung tâm công nghiệp năng lượng ngoài khơi trong tương lai. Trong khi đó, Phú Quốc và không gian biển Tây Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển cao cấp, kinh tế sáng tạo biển và trung tâm dịch vụ biển quốc tế gắn với kinh tế xanh.
Nhìn tổng thể, công nghiệp không chỉ là một bộ phận của kinh tế biển mà đang trở thành động lực trung tâm quyết định chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia biển của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Phát triển công nghiệp biển hiện đại, công nghệ cao, xanh và sáng tạo chính là điều kiện then chốt để Việt Nam hình thành mô hình kinh tế biển mới, tạo ra các cực tăng trưởng chiến lược và hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Định hướng và giải pháp đột phá phát triển kinh tế biển, công nghiệp biển theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Trong bối cảnh kinh tế biển đang trở thành không gian chiến lược của cạnh tranh và phát triển toàn cầu, việc khai thác hiệu quả tiềm năng biển không còn chỉ là vấn đề mở rộng quy mô kinh tế mà đã trở thành yêu cầu mang tính chiến lược đối với quá trình tái cấu trúc mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và các động lực tăng trưởng mới. Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải có những đột phá mạnh mẽ trong tư duy phát triển, thể chế quản trị và tổ chức không gian kinh tế biển nhằm hình thành mô hình kinh tế biển hiện đại, có giá trị gia tăng cao và năng lực cạnh tranh quốc tế.
Trước hết, yêu cầu có tính nền tảng là phải đổi mới căn bản tư duy phát triển kinh tế biển. Đây không đơn thuần là sự điều chỉnh về chính sách mà là sự chuyển đổi mang tính chiến lược về mô hình phát triển quốc gia. Nếu như trước đây kinh tế biển chủ yếu dựa trên khai thác tài nguyên tự nhiên và tăng trưởng theo chiều rộng, thì trong giai đoạn mới cần chuyển mạnh sang mô hình “kiến tạo kinh tế biển” dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển xanh. Điều này có nghĩa là biển phải được nhìn nhận không chỉ như nguồn tài nguyên mà còn là không gian của công nghiệp hiện đại, của kinh tế số, năng lượng tái tạo, logistics quốc tế và công nghiệp sáng tạo. Chỉ khi chuyển đổi được tư duy phát triển theo hướng đó, Việt Nam mới có thể vượt qua giới hạn của mô hình tăng trưởng truyền thống, nâng cao giá trị gia tăng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị biển toàn cầu.
Thứ hai, trên nền tảng đổi mới tư duy phát triển, cần tập trung xây dựng hệ sinh thái công nghiệp biển quốc gia như một trụ cột chiến lược của nền kinh tế biển hiện đại. Trong xu hướng chuyển đổi năng lượng toàn cầu, Việt Nam cần ưu tiên phát triển công nghiệp năng lượng ngoài khơi, đặc biệt là điện gió ngoài khơi và hydrogen xanh, coi đây là động lực mới của quá trình công nghiệp hóa xanh. Không chỉ dừng lại ở phát triển nguồn điện, cần hình thành toàn bộ chuỗi công nghiệp hỗ trợ gồm cơ khí biển, vật liệu mới, công nghệ lưu trữ năng lượng, cảng chuyên dụng và dịch vụ kỹ thuật đại dương. Đây là điều kiện quan trọng để Việt Nam không chỉ trở thành quốc gia sản xuất năng lượng sạch mà còn tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp năng lượng mới của thế giới.
Thứ ba, cần đẩy mạnh phát triển hệ thống logistics và cảng biển quốc tế theo hướng hiện đại, thông minh và có tính kết nối toàn cầu. Với vị trí nằm trên tuyến hàng hải quốc tế quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam có tiềm năng trở thành trung tâm logistics biển của khu vực nếu xây dựng được hệ thống cảng nước sâu hiện đại, logistics số và hạ tầng vận tải liên vùng đồng bộ. Trong bối cảnh cạnh tranh chuỗi cung ứng ngày càng gay gắt, năng lực logistics không chỉ là yếu tố hỗ trợ thương mại mà đã trở thành cấu phần cốt lõi của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ tư, một định hướng có ý nghĩa chiến lược lâu dài khác là phát triển công nghiệp công nghệ biển và dữ liệu biển. Trong thời đại kinh tế số, dữ liệu và công nghệ đang trở thành nền tảng của quản trị và khai thác đại dương. Việt Nam cần ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực như dữ liệu đại dương, trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển, công nghệ giám sát biển, robot biển, công nghệ sinh học biển và các nền tảng số phục vụ kinh tế biển. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất, hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh trong tương lai.
Thứ năm, bên cạnh công nghiệp công nghệ cao, cần đặc biệt quan tâm phát triển công nghiệp sinh học biển - lĩnh vực được xem là “mỏ vàng xanh” của thế kỷ XXI. Với hệ sinh thái biển nhiệt đới phong phú, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển dược liệu biển, thực phẩm chức năng, vật liệu sinh học và nuôi biển công nghệ cao. Nếu được đầu tư bài bản, đây sẽ trở thành những ngành kinh tế có giá trị gia tăng rất cao, đồng thời góp phần thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn biển.
Thứ sáu, một nội dung đột phá quan trọng trong kỷ nguyên mới là phát triển công nghiệp văn hóa biển như một động lực mềm của kinh tế biển Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo ngày càng trở thành xu hướng phát triển toàn cầu, việc chuyển hóa các giá trị văn hóa biển thành nguồn lực phát triển kinh tế có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế, văn hóa và đối ngoại. Trước hết, cần xây dựng chiến lược quốc gia về công nghiệp văn hóa biển nhằm định hình rõ các lĩnh vực ưu tiên, cơ chế đầu tư và mô hình phát triển phù hợp với xu thế kinh tế sáng tạo hiện đại. Trên cơ sở đó, cần hình thành các trung tâm sáng tạo biển quốc gia gắn với các đô thị biển lớn, nơi kết nối giữa văn hóa, công nghệ, du lịch, nghệ thuật và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, cần thúc đẩy phát triển công nghiệp nội dung số biển, bao gồm điện ảnh biển, truyền thông số về biển đảo, game, thực tế ảo (VR/AR), bảo tàng số và các sản phẩm văn hóa sáng tạo biển. Đây không chỉ là lĩnh vực có giá trị kinh tế cao mà còn là công cụ hiệu quả để lan tỏa hình ảnh quốc gia, nâng cao nhận thức cộng đồng về biển đảo và tăng cường sức mạnh mềm Việt Nam trong môi trường cạnh tranh toàn cầu. Cùng với đó, cần phát triển các festival biển quốc tế, kinh tế đêm ven biển và các không gian văn hóa biển hiện đại nhằm tạo ra các hệ sinh thái du lịch - văn hóa - sáng tạo có sức cạnh tranh quốc tế. Về lâu dài, cần xây dựng thương hiệu quốc gia biển Việt Nam như một biểu tượng của quốc gia biển hiện đại, năng động, sáng tạo và giàu bản sắc văn hóa.
Để hiện thực hóa các định hướng trên, yêu cầu có tính quyết định là phải tạo đột phá mạnh mẽ về thể chế và hạ tầng chiến lược biển. Cụ thể là:
Trước hết, cần đổi mới mô hình quản trị biển theo hướng quản trị tích hợp không gian biển quốc gia, bảo đảm liên kết giữa kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Quy hoạch không gian biển phải được xây dựng với tầm nhìn dài hạn, thống nhất và có tính liên kết vùng cao, khắc phục tình trạng phát triển phân tán, cục bộ và chồng chéo hiện nay. Đồng thời, cần nghiên cứu xây dựng các cơ chế đặc thù cho phát triển kinh tế biển, nhất là đối với các trung tâm logistics quốc tế, khu kinh tế biển chiến lược, công nghiệp năng lượng ngoài khơi và các ngành công nghệ biển mới.
Thứ hai, song song với đổi mới thể chế, cần tập trung đầu tư phát triển hạ tầng chiến lược biển theo hướng hiện đại và đồng bộ, bao gồm hạ tầng cảng biển, logistics, năng lượng, giao thông ven biển, hạ tầng số biển và hệ thống dữ liệu đại dương quốc gia. Trong nền kinh tế hiện đại, hạ tầng dữ liệu và hạ tầng số có vai trò không kém hạ tầng vật chất truyền thống. Vì vậy, phát triển “hạ tầng mềm” cho kinh tế biển cần được xem là ưu tiên chiến lược trong giai đoạn tới.
Thứ ba, một giải pháp mang tính nền tảng khác là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và khoa học - công nghệ biển. Việt Nam cần xây dựng các trung tâm nghiên cứu biển và đổi mới sáng tạo biển có tầm khu vực, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, đào tạo và doanh nghiệp. Đồng thời, cần đổi mới mạnh mẽ hệ thống đào tạo nhân lực biển theo hướng hiện đại, liên ngành và gắn với các lĩnh vực mới như công nghệ đại dương, logistics quốc tế, kinh tế số biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi và công nghiệp sáng tạo biển. Trong dài hạn, năng lực khoa học công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực sẽ là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của kinh tế biển Việt Nam.
Thứ tư, phát triển kinh tế biển phải luôn gắn chặt với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đối với Việt Nam, kinh tế biển không chỉ là vấn đề tăng trưởng kinh tế mà còn gắn với bảo vệ chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Vì vậy, cần kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, tăng cường hiện diện dân sự và kinh tế trên các vùng biển, đảo. Đồng thời, cần đẩy mạnh ngoại giao biển, hợp tác quốc tế về kinh tế biển và phát huy sức mạnh mềm quốc gia thông qua văn hóa biển, thương hiệu biển và hình ảnh quốc gia biển Việt Nam. Song song với đó, cần đặc biệt quan tâm phát triển cộng đồng cư dân biển bền vững, nâng cao chất lượng sống và tạo sinh kế ổn định cho người dân ven biển, bởi đây chính là nền tảng xã hội lâu dài của chiến lược phát triển biển quốc gia.
Trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, kinh tế biển cần được xác định là một trong những trụ cột quan trọng nhất của mô hình tăng trưởng mới. Khi tạo được đột phá về thể chế, công nghệ, hạ tầng và nguồn nhân lực, Việt Nam có khả năng xây dựng và phát triển nền kinh tế biển hiện đại, xanh, số và có sức cạnh tranh quốc tế, qua đó tạo động lực mạnh mẽ để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
PGS.TS. Vũ Trọng Lâm
Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
Bài viết liên quan
- Phát triển kinh tế biển theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW Đại hội XIV của Đảng (Phần 1) (09/10/2026)
- Kinh tế biển trong chiến lược tăng trưởng mới của Việt Nam và yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp nền tảng (Phần 2) (28/08/2026)
- Kinh tế biển trong chiến lược tăng trưởng mới của Việt Nam và yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp nền tảng (Phần 1) (30/07/2026)
- Nâng cao năng lực đóng mới, sửa chữa và hoán cải tàu:“Dịch chuyển sang mô hình nhà máy thông minh và xanh” (26/06/2026)
- Nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động các tuyến vận tải đường thủy nội địa (26/05/2026)
- Chính phủ Nhật Bản hồi sinh ngành đóng tàu vì an ninh kinh tế (24/04/2026)
- Đánh giá ảnh hưởng tuyến luồng vận tải thủy nội địa khu vực phía bắc đến năng lực cạnh tranh của ngành vận tải thủy nội địa Việt Nam (Phần 3) (03/04/2026)
- Đánh giá ảnh hưởng tuyến luồng vận tải thủy nội địa khu vực phía bắc đến năng lực cạnh tranh của ngành vận tải thủy nội địa Việt Nam (Phần 2) (03/04/2026)
- Đánh giá ảnh hưởng tuyến luồng vận tải thủy nội địa khu vực phía bắc đến năng lực cạnh tranh của ngành vận tải thủy nội địa Việt Nam (Phần 1) (03/04/2026)
- Yếu tố con người trong bảo đảm an toàn hàng hải: Nghiên cứu tổng quan (Phần 2) (07/01/2026)











